Phần trước về giải pháp quản lý nông trại p1

Đã vậy, nếu quyết định đầu tư thì DN sẽ đối mặt tiếp với những khó khăn khác như: Không có quỹ đất lớn để sản xuất. Hợp tác với nông dân còn nhiều rủi ro vì tính tuân thủ hợp đồng còn yếu. Hệ thống cung cấp vốn cho DN chưa phát triển. Thị trường tiêu thụ nông sản còn bấp bênh. Tiếp cận các chính sách ưu đãi còn nhiều trở ngại…

Riêng tại TP Hồ Chí Minh, hiện có 14 DN đang đầu tư trong Khu NNCNC và 23 DN ươm tạo hiện đang hoạt động. Theo khảo sát tình hình hoạt động các DN này của Sở NN&PTNT TP Hồ Chí Minh, trong số 14 DN là nhà đầu tư trong khu NNCNC gồm nhiều lĩnh vực (sản xuất cây giống, hạt giống rau quả, nấm ăn, nấm dược liệu, chế phẩm sinh học, hoa lan và xử lý sau thu hoạch), chỉ có 10 DN đang hoạt động (chiếm 71%), còn 4 DN đang gặp khó khăn về nguồn vốn để triển khai các hạng mục dự án.

Trong hoạt động kết nối giữa Ngân hàng với DN những năm qua, có 6 lượt DN có nhu cầu vay vốn để phát triển và đầu tư cho sản xuất nhưng đều không đáp ứng được yêu cầu và điều kiện cho vay của Ngân hàng. Chỉ có 2 nhà đầu tư vay được từ nguồn vốn ưu đãi lãi suất (theo Quyết định 04 của thành phố) với tổng vốn vay hơn 8 tỷ đồng.

Còn hoạt động ươm tạo DN cũng đã triển khai từ năm 2009 thông qua Trung tâm ươm tạo DN NNCNC. Trung tâm tiếp nhận khoảng 820 cá nhân liên hệ trực tiếp để tìm hiểu về chính sách và điều kiện để tham gia nhưng chỉ 260 trường hợp muốn tham gia chương trình. Số liệu khảo sát cho thấy, tỷ lệ người quan tâm/tổng số người biết đến chương trình là 7,03%, tỷ lệ thu hút DN đầu vào/tổng số người tiếp cận thông tin về chương trình ươm tạo là 5,2%. Như vậy, mức độ quan tâm khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn thấp. Đây là một thử thách rất lớn đối với ngành nông nghiệp, đặc biệt NNƯDCNC.

Các chuyên gia cho rằng, để nâng cao giá trị và cơ hội tiêu thụ nông sản Việt Nam và các sản phẩm từ quản lý trang trại tại thị trường xuất khẩu thì ngành nông nghiệp trong nước phải tập trung xây dựng vùng nguyên liệu, áp dụng một số tiêu chuẩn sản xuất nông sản theo yêu cầu của các nước nhập khẩu như GlobalGAP, VietGAP, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và gia tăng hàm lượng chế biến nông sản. Ngoài ra, cần phải giải quyết vấn đề về môi trường và tính bền vững. Đây thường là yêu cầu của các nhà nhập khẩu và cũng là vấn đề được đề cập trong các thỏa thuận như Hiệp định thương mại tự do FTA.

Từ thực tế này, ông Từ Minh Thiện đã đưa ra ba nhóm giải pháp chính để phát triển DNVVN trong lĩnh vực nông nghiệp và NNƯDCNC. Thứ nhất, phải xóa bỏ rào cản trong môi trường kinh doanh (như khả năng tiếp cận thị trường, nguồn lực, thông tin và các chi phí không chính thức…).

Đây được xem là giải pháp tổng thể, liên tục, lâu dài để khuyến khích các DN khởi nghiệp và tạo thuận lợi cho các hoạt động của vườn ươm. Thứ 2, phải có cơ chế chính sách riêng cho từng nhóm đối tượng DN. Thứ 3, nâng cao hiệu quả cung ứng vốn, lưu ý tạo nguồn vốn đầu tư NNƯDCNC. Bởi vì theo khảo sát việc cho vay và đầu tư của các tổ chức tài chính cho thấy, các tổ chức này chỉ hỗ trợ vốn cho DN ở giai đoạn tăng trưởng, phát triển và thuần thục.

Giai đoạn ban đầu của DN thì rất khó khăn để thuyết phục các nhà đầu tư phát triển giải pháp quản lý trang trại. Vì vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà nước cần hỗ trợ DN thông qua các hình thức cho vay ưu đãi, hoặc tài trợ dưới hình thức các giải thưởng khoa học công nghệ. Sau đó, sẽ huy động thêm nguồn vốn từ các nhà đầu tư để hình thành nên một Quỹ đầu tư mạo hiểm.